1. Đặc điểm chung của đất Việt Nam. a) Đất ở nước ta rất đa dạng, thể hiện rõ tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của thiên nhiên Việt Nam. b) Nước ta có ba nhóm đất chính - Nhóm đất feralit. Phân bố ở vùng đồi núi thấp, chiếm khoảng 65% diện tích đất tự nhiên. Dáng hình người mẹ như hiện lên rõ rệt trong tâm tưởng nhà thơ. Chi tiết gây ấn tượng nhất Nắng mới là "nét cười đên nhánh" của người mẹ. Câu thơ rất tạo hình. Chân dung bà mẹ hiện lên chỉ nơi trong hình ảnh ấy. Không phải "miệng" cười hay "nụ" cười Vị trí: Tư vấn ngắn hạn Dịch vụ (sẽ cung cấp): Thu thập, phân tích thông tin và xây dựng bài phân tích chuyên sâu về thực trạng buôn bán rùa trên một số kênh mạng xã hội tại Việt Nam Địa điểm thực hiện: Trực tuyến. I. Bối cảnh: Báo cáo năm 2011 của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) về rùa Đề bài : Phân tích bài thơ " Sông núi nước Nam" của Lý Thường Kiệt và nêu cảm nhận của em. Lý Thường Kiệt - vị danh tướng thời Lý, mà tên tuổi của ông gắn liền với chiến thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt vào thế kỉ thứ 11. Bài 7: Đất nước nhiều đồi núi (tiếp theo) Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển. Bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa. Bài 10: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (tiếp theo) Bài 11: Thiên nhiên phân hóa đa dạng. Bài 12: Thiên nhiên phân hóa đa dạng (tiếp theo) a) Biên giới quốc gia nước CHXHCN Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm: Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ,biên giới quốc gia đồng thời xác định bảo vệ biên giới quốc gia gắn liền với bảo vệ lãnh thổ bảo vệ tổ HRVN. Sông núi nước Nam Nam quốc sơn hà là tác phẩm thơ mở đầu phần văn học viết thời kì trung đại trong chương trình Ngữ văn 7. Trong số phát sóng thứ 12 của chương trình Học hè Online cùng HOCMAI, thầy Nguyễn Phi Hùng – Giáo viên môn Ngữ văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI sẽ hướng dẫn học sinh tìm hiểu nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm này. Cùng tìm hiểu ngay trong bài viết dưới đây nhé! Xem đầy đủ bài giảng của thầy Hùng tại đây “Sông núi nước Nam” là bản tuyên ngôn khẳng định chủ quyền, sức mạnh của dân tộc ta đồng thời tố cáo, khẳng định tính chất bất nghĩa về hành vi xâm lược của kẻ thù. A. Tìm hiểu chung 1. Tác giả Ở những bài học trước, học sinh được tìm hiểu về ca dao thuộc văn học dân gian – đây là sản phẩm tinh thần của người dân lao động, do đó không có tác giả cụ thể, “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng chính những người lao động đã sáng tạo nên kho tàng văn học dân gian đồ sộ cho con cháu chúng ta ngày nay. Tuy nhiên, khi tìm hiểu sang phần văn học viết, cụ thể từ văn học trung đại Việt Nam thời phong kiến từ thế kỉ X – XIX, các tác phẩm tìm hiểu sẽ có tác giả cụ thể, là sản phẩm sáng tạo cá nhân. Đối với tác phẩm “Sông núi nước Nam”, đến hiện nay vẫn còn nhiều giả thuyết và tranh cãi xung quanh tác giả của bài thơ. Trong bài giảng này, thầy Hùng giới thiệu đến học sinh 2 giả thuyết chính về tác giả Thứ nhất, tác giả bài thơ “Sông núi nước Nam” là Lý Thường Kiệt. Lý Thường Kiệt Anh hùng dân tộc, sống thời nhà Lý; Văn võ toàn tài Bài thơ được xem như một áng văn kết tinh toàn vẹn ý chí, nguyện vọng của cả dân tộc. Thứ hai, chưa xác định rõ danh tính Theo một số nhà nghiên cứu, bài thơ đã được sáng tác trước thời của Lý Thường Kiệt. Theo quan niệm của dân gian, bài thơ do thần linh đọc cho vua Lê Hoàn, là bài thơ thần. Bài thơ là sự kết tụ của anh linh, của tú khí non sông, là tiếng nói của các thế hệ cha ông. 2. Tác phẩm a/ Về hoàn cảnh sáng tác Căn cứ tác giả bài thơ là Lý Thường Kiệt, “Sông núi nước Nam” được ra đời vào năm 1077, lúc đó dân tộc ta đang đối diện với cuộc kháng chiến chống quân Tống. b/ Chủ đề bài thơ Bài thơ gồm 2 chủ đề chính Khẳng định quyền độc lập tự chủ của dân tộc Vạch trần, tố cáo hành vi xâm lược và nêu rõ kết cục thảm bại của quân giặc. c/ Nghệ thuật Thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt bài thơ gồm 4 câu, mỗi câu 7 chữ ngắn gọn, hàm súc Bố cục 2 phần Hai câu thơ đầu Khẳng định quyền độc lập, tự chủ Hai câu cuối Tố cáo tội ác xâm lược của giặc và nêu rõ kết cục thảm bại của quân giặc. >> Nhận tài liệu học môn Ngữ văn THCS miễn phí của thầy Hùng tại đây>> sông núi, lãnh thổ đã có sự phân chia rõ ràng, do trời tạo nên. Thiên tạo Quốc gia đất nước, xã hội, chế độ… do con người tạo nên Nhân tạo Nam đế vua, thủ lĩnh – người đứng đầu của một quốc gia, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của dân tộc. Đế Vương Khẳng định vị thế ngang hàng giữa phương Nam với phương Bắc. Kết luận Khẳng định tư thế độc lập, tự chủ, bình đẳng của nước Nam ta với phong kiến phương Bắc. b/ Câu thơ thứ hai Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Câu thơ đầu Khẳng định tư thế độc lập, ngang hàng giữa Nam đế và Bắc đế – phù hợp với đạo làm người cơ bản phù hợp với nhân đạo, điều ấy được khắc ghi trong lòng nhân dân Dân tâm. yếu tố con người quy định nên Thanh điệu 4 thanh trắc thanh nặng >>> tạo âm hưởng cho câu thơ đanh, chắc, như một lời hùng hồn khẳng định chân lý lý bất di bất dịch ở câu thứ nhất. Các từ ngữ “tiệt nhiên” rõ ràng, tất yếu “định” >>> sự thật rõ ràng, chắc chắn, không gì có thể thay đổi được. Thiên thư sách trời ghi lại ý trời thiên ý >>> thể hiện đạo trời Thiên đạo Qua 2 câu đầu tiên, Lý Thường Kiệt khẳng định độc lập, chủ quyền của nước Nam trên 2 cơ sở Nhân đạo, lòng dân Thiên đạo, ý trời 2. Hai câu sau Khẳng định hành vi trái đạo của kẻ thù “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” Quân giặc Tên gọi “lỗ”, “nhữ đẳng” >>> hàm ý khinh miệt, coi thường Hành động “xâm phạm” >>> trái nghịch Câu hỏi tu từ “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm” khẳng định tính chất vô đạo của bọn giặc xâm lược; Sự tức giận, bất bình của nhân dân nước Nam đối với hành vi của kẻ thù. Kết cục câu khẳng định “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” chắc chắn, hợp lý, tất yếu. Câu thơ vang lên như một lời tiên báo, cảnh báo cho kẻ thù. Kết luận Bài thơ ngắn gọn chỉ với 28 chữ mà ôm chứa đủ trong nó những tư tưởng lớn lao Khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc, niềm tự hào được làm chủ một quốc gia và niềm tự tin, lạc quan đánh bại mọi kẻ thù. Bài thơ là bản tuyên ngôn độc lập đầy hào sảng trong những tháng ngày đầu tiên của nền độc lập tự chủ của quốc gia Đại Việt. Trên đây là những hướng dẫn chi tiết của thầy Hùng khi tìm hiểu, phân tích bài thơ “Sông núi nước Nam” Nam quốc sơn hà. Để phân tích tốt bài thơ, bên cạnh học phần dịch nghĩa để nắm được ý nghĩa tường minh văn bản, học sinh chú ý học phần phiên âm để nhận ra âm hưởng hào hùng của bài thơ và tránh bỏ lỡ những giá trị độc đáo của bài thơ gốc. Ngoài ra, để nhanh chóng bắt nhịp khi vào năm học mới, phụ huynh và học sinh tham khảo Chương trình Học tốt 2021 – 2022 tại HOCMAI. Với phương pháp giảng dạy hiện đại cùng đội ngũ giáo viên giàu chuyên môn và kinh nghiệm sẽ giúp học sinh tiếp cận kiến thức nhanh chóng, dễ hiểu nhất, giúp các em vững kiến thức, chắc tư duy, sẵn sàng bứt phá năm học mới. Các khóa học được thiết kế khoa học với lộ trình rõ ràng bám sát chương trình SGK hiện hành với đầy đủ các môn học Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, GDCD cho học sinh chuẩn bị lên lớp 7,8,9. Tham khảo ngay tại đây! Đăng ký chương trình Học Tốt 2021 – 2022 Trang bị kiến thức toàn diện với hệ thống bài giảng bám sát SGK, thay thế việc học thêm. Hệ thống đề kiểm tra và bài tập tự luyện có ĐÁP ÁN và HƯỚNG DẪN GIẢI. Đội ngũ giáo viên giỏi chuyên môn và giàu kinh nghiệm giảng dạy. Giúp học sinh tăng cơ hội giành điểm 9 – 10 trong các bài thi, bài kiểm tra. Thông tin chi tiết về khóa học, phụ huynh và học sinh hãy gọi ngay hotline 0936 5858 12 để được tư vấn miễn phí. Đề bài Phân tích bài Sông núi nước Nam. Ngữ văn 7 Bài làm Cùng với tinh thần nhân đạo thì yêu nước là chủ đề lớn của nền văn học Việt Nam. Nam quốc sơn hà là một trong những áng văn chương kiệt tác của văn học thời Lí – Trần. Nó là tác phẩm kết tinh được hào khí thời đại, cảm xúc của muôn trái tim, vì thế, nó tiêu biểu cho tinh thần độc lập, khí phách anh hùng và khát vọng lớn lao của dân tộc trong buổi đầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập. Bài thơ để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc. Sông núi nước Nam là một bài thơ chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Nguyên tắc như sau Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch thành Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. Theo Lê Thước – Nam Trân dịch Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt Tương truyền rằng, trong cuộc kháng chiến chống Tống đời nhà Lí, một đêm tối trên phòng tuyến Như Nguyệt, từ trong đền thờ hai thần Trương Hồng và Trương Hát hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt, bài thơ đã ngân vang lên Vì thế người ta gọi bài thơ này là thơ thần. Nhưng dù là do thần linh hay con người đọc lên thì bài thơ vẫn là khát vọng và khí phách Đại Việt. Ý tưởng bảo vệ độc lập, kiên quyết chống giặc ngoại xâm được diễn đạt trực tiếp qua một mạch lập luận khá chặt chẽ và biện chứng. Mở đầu bài thơ là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền đất nước Nam quốc sơn hà Nam đế cư Câu thơ 7 tiếng tạo thành hai vế đối xứng nhau nhịp nhàng Nam quốc sơn hà – Nam đế cư. Đặc biệt, cách dùng chữ của tác giả bài thư thể hiện rất “đắt” ý tưởng và cảm xúc thơ. Hai từ Nam quốc và Nam đế có thể coi là nhãn tự mắt thần của câu thơ và của cả bài thơ. Trong tư tưởng của bọn cầm quyền phong kiến Trung Quốc xưa nay-chỉ có Bắc đế, chứ không thế có Nam đế hoàng đế Trung Hoa là vị hoàng đế duy nhất của thiên hạ, thay trời trị vì thiên hạ. Trở lại với nội dung tư tưởng bao hàm qua ngôn từ của câu thơ. Nam quốc không chỉ có nghĩa là nước Nam, mà Nam quốc còn là vị thế của nước Nam ta, đất nước ấy dù nhỏ bé nhưng tồn tại độc lập, sánh vai ngang hàng với một cường quốc lớn ở phương Bắc như Trung Quốc. Hơn nữa, đất nước ấy lại có chủ quyền, có một vị hoàng đế Nam đế. Vị hoàng đế nước Nam cũng có uy quyền không kém gì các hoàng đế Trung Hoa, cũng là một bậc đế vương, do đấng tối cao phong tước, chia cho quyền cai quản một vùng đất riêng mà lập nên giang sơn xã tắc của mình Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là sự thật hiển nhiên. Không ai có quyền phủ định? Bởi sự phân định núi sông, bờ cõi đâu phải là ý muốn chủ quan của một người hay một số người, mà do “Trời” định đoạt. Bản đồ ranh giới lãnh thổ của các quốc gia đã in dấu ấn trong sách trời Ai có thể thay đổi được? Tác giả bài thơ đã đưa ra những lí lẽ thật xác đáng. Qua cách lập luận, nổi lên một quan niệm, một chân lí thiêng liêng và cao cả chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt. Vẫn những lí lẽ đanh thép ấy, tác giả khẳng định tiếp Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Thật là một khí phách kiên cường! Thay mặt cả dân tộc, nhà thơ đã lớn tiếng cảnh cáo bọn giặc xâm lược Chúng bay phạm vào bờ cõi này, tức là chúng bay đã phạm vào sách trời; mà phạm vào sách trời, tức là làm trái với đạo lí trở thành kẻ đại nghịch vô đạo nghịch lỗ, lẽ nào Trời đất dung tha. Mặt khác chúng bay phạm vào bờ cõi này tức là phạm vào chủ quyền thiêng liêng của một dân tộc, nhất là dân tộc đó lại là một dân tộc có bản lĩnh kiên cường, có ý chí độc lập mạnh mẽ, vậy thì, sự thất bại sẽ là điều không thể tránh khỏi, thậm chí còn bị đánh cho tơi bời thủ bại hư. Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại có một khí phách hào hùng như thế! Cảm xúc thơ thật mãnh liệt, tạo nên chất trữ tình chính luận- một đặc điểm của thơ ca thời Lí – Trần, khiến người đọc rưng rưng! Bài thơ xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta, và ngàn đời sau, bài thơ vẫn là hồn thiêng sông núi vọng về. Năm sáng tác987Tác giảKhuyết danhHoàn cảnh sáng tácBài thơ chưa rõ tác giả là ai và có nhiều lời kể về sự ra đời của bài thơ, trong đó có truyền thuyết Năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta. Vua Lí Nhân Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt, bỗng một đêm, quân sĩ nghe từ trong đền thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát có tiếng ngâm bài thơ này. Được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" của chủ tướng Lí Thường Kiệt đã trở thành một áng thơ văn bất hủ, không chỉ khẳng định được vấn đề về lãnh thổ, chủ quyền, độc lập của dân tộc Việt Nam, mà bài thơ còn thể hiện được tính thần lực, tự tôn dân tộc mãnh mẽ của vị chủ tướng tài ba Lí Thường Kiệt cũng như những người dân Việt Nam nói chung. Bài thơ cũng là lời khẳng định tuyên bố đanh thép của tác giả đối với những kẻ có ý định xâm lăng vào lãnh thổ ấy, xâm phạm vào lòng tự tôn của một dân tộc anh hùng . Trong cuộc chiến đấu chống quân Tống của quân dân Đại Việt, chủ tướng Lí Thường Kiệt đã đọc bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" ở đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hát - Là hai vị thần của sông Như Nguyệt. Khi bài thơ thần này vang lên vào thời điểm đêm khuya, lại được vọng ra hùng tráng, đanh thép từ một ngôi đền thiêng liêng nên đã làm cho quân Tống vô cùng khiếp sợ, chúng đã vô cùng hoảng loạn, lo lắng, nhuệ khí của quân giặc bị suy giảm một cách nhanh chóng. Cũng nhờ đó mà quân dân ta có thể tạo ra một chiến thắng lừng lẫy, oai hùng sau đó. Mở đầu bài thơ, tác giả Lí Thường Kiệt đã khẳng định một cách chắc chắn, mạnh mẽ về vấn đề chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc Đại Việt, đó là ranh giới đã được định sẵn, là nơi sinh sống của người dân Đại Việt. Lời khẳng định này không phải chỉ là lời khẳng định của tác giả, mà tác giả còn đưa ra những luận chứng sắc sảo, đó là bởi "sách trời" quy định. Tức sự độc lập,chủ quyền về lãnh thổ ấy được trời đất quy định, chứng giám. Một sự thật hiển nhiên mà không một ai có thể chối cãi được "Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời" Sông núi nước Nam là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam, cũng là những hình ảnh biểu tượng không chỉ cho ranh giới, chủ quyền của người nam mà còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của "sông núi" ấy là của người Nam. Chúng ta cũng có thể thấy đây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn mà vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng định mạnh mẽ, hào sảng đến như vậy. Không chỉ là dân tộc có chủ quyền, có lãnh thổ mà dân tộc ấy còn có người đứng đầu, người quản lí, làm chủ người dân của quốc gia ấy, đó chính là "vua Nam". Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự định phận của "sách trời", đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của "trời" đều rất có giá trị, đều rất đáng trân trọng. "Rành rành" là dùng để chỉ sự hiển hiện, tất yếu mà ai cũng có thể nhận biết cũng phân biệt được. "Rành rành định phận ở sách trời" có nghĩa vùng lãnh thổ ấy, chủ quyền ấy của người Nam đã được sách trời ghi chép rõ ràng, dù có muốn cũng không thể chối cãi, phủ định. Như vậy, ở hai câu thơ đầu, tác giả Lí Thường Kiệt không chỉ đưa ra luận điểm là lời khẳng định hào sảng, chắc chắn về vùng lãnh thổ, ranh giới quốc gia và chủ quyền, quyền làm chủ của nhân dân Đại Việt với quốc gia, dân tộc mình mà tác gỉ còn rất tỉnh táo, sắc sảo khi đưa ra những luận cứ đúng đắn, giàu sức thuyết phục mà còn đưa ra một sự thật mà không một kẻ nào, một thế lực nào có thể phủ định, bác bỏ được nó. Giọng văn hào hùng, mạnh mẽ nhưng không giấu được niềm tự hào của bản thân Lí Thường Kiệt về chủ quyền của dân tộc mình. Từ sự khẳng định mạnh mẽ vấn đề chủ quyền của dân tộc Đại Việt, Lí Thường Kiệt đã lớn tiếng khẳng định, cũng là lời cảnh cáo đến kẻ thù, đó chính là cái kết cục đầy bi thảm mà chúng sẽ phải đón nhận nếu biết nhưng vẫn cố tình thực hiện hành động xâm lăng lãnh thổ, gây đau khổ cho nhân dân Đại Việt "Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời" Sự thật hiển nhiên rằng, "Sông núi nước Nam" là do người Nam ở, người Nam làm chủ. Nhưng lũ giặc không hề màng đến sự quy định mang tính tất yếu ấy, chúng cố tình xâm phạm Đại Việt cũng là xúc phạm đến sự tôn nghiêm của đạo lí, của luật trời "Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm" hành động ngông cuồng, phi nghĩa này của bọn chúng thật đáng bị phê phán, thậm chí đáng để trừng phạt bằng những hình thức thích đáng nhất. Và ở trong bài thơ này, tác giả Lí Thường Kiệt cũng đã đanh thép khẳng định cái kết cục đầy bi đát, ê chề cho lũ cướp nước, coi thường đạo lí "Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời". Với tất cả sức mạnh cũng như lòng tự tôn, tính chính nghĩa của dân tộc Đại Việt thì lũ xâm lăng chỉ có một kết cục duy nhất, một kết quả không thể tránh khỏi "bị đánh cho tơi bời". Như vậy, bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" là một bài thơ, một bài thơ mang chính chính luận rõ ràng, sâu sắc, một bản tuyên ngôn hùng hồn, mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Bài thơ thể hiện lòng tự hào của người Việt Nam về chủ quyền thiêng liêng của dân tộc, về sức mạnh vĩ đại của người dân trong công cuộc đánh đuổi ngoại xâm. Nam quốc sơn hàBài thơ Sông núi nước Nam - Nội dung bài thơ, Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩm được VnDoc sưu tầm và đăng tải nhằm giới thiệu Nội dung tác phẩm, Hoàn cảnh sáng tác nằm trong chương trình giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7. Mời quý thầy cô cùng các bạn tham khảo tài liệu dưới đâyNam Quốc Sơn Hà Sông núi nước NamĐôi nét về tác giả bài thơ Sông núi nước NamĐôi nét về tác phẩm Sông núi nước Nam1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ Sông núi nước Nam2. Thể loại bài thơ Sông núi nước Nam3. Ngôn ngữ bài thơ Sông núi nước Nam4. Phương thức biểu đạt bài hơ Sông núi nước Nam5. Bố cục bài thơ Sông núi nước Nam6. Giá trị nội dung bài thơ Sông núi nước Nam7. Giá trị nghệ thuật bài thơ Sông núi nước NamDàn ý phân tích tác phẩm Nam quốc sơn hàCảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước NamLưu ý Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài giao lưu và dễ dàng chia sẻ các tài liệu học tập hay lớp 7, mời các bạn tham gia nhóm facebook Tài liệu học tập lớp dung Bài thơ Sông núi nước Nam- Phiên âmNam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại Dich nghĩaSông núi nước Nam, vua Nam ở,Giới phận đó đã được định rõ ràng ở sách sao kẻ thù lại dám đến xâm phạm,Chúng mày nhất định sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại Dịch thơSông núi nước Nam vua Nam ởVằng vặc sách trời chia xứ sởGiặc giữ cớ sao phạm đến đâyChúng mày nhất định phải tan vỡ.Theo Lê Thước - Nam Trân dịchĐôi nét về tác giả bài thơ Sông núi nước NamCho đến nay vẫn chưa xác định được chính xác tác giả bài thơ Sông núi nước Nam là nhiên, theo nhiều nguồn tài liệu thì người ta cho rằng Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ nét về tác phẩm Sông núi nước Nam1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ Sông núi nước NamBài thơ chưa rõ tác giả là ai và có nhiều lời kể về sự ra đời của bài thơ, trong đó truyền thuyết được nhiều người tin tưởng nhất kể như sau Năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta. Vua Lí Nhân Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt, bỗng một đêm, quân sĩ nghe từ trong đền thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát có tiếng ngâm bài thơ Thể loại bài thơ Sông núi nước Nam- Thơ trung đại Việt NamLà những tác phẩm thơ ra đời vào thời kì trung đạiThường được viết bằng chữ Hán hoặc chữ NômGồm nhiều thể thơ như thơ đường luật thất ngôn bát cú đường luật, thất ngôn tứ tuyệt đường luật, ngũ ngôn tứ tuyệt đường luật..., song thất lục bát...→ Bài thơ Nam quốc sơn hà thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật→ Đặc điểm thể thơ+ Bài thơ có tất cả 4 câu thơ dòng thơ, mỗi câu thơ có 7 chữ.+ Gieo vầnCách 1 Gieo vần vào tiếng cuối các câu 1 - 2 - 4 tiếng cuối câu 3 bắt buộc thanh trắc - bài thơ Nam quốc sơn hà gieo vần theo cách nàyCách 2 Gieo vần chéo vào tiếng cuối các câu 1 - 3 tiếng cuối các câu 2 - 4 phải là thanh trắc hay các câu 2 - 4 tiếng cuối các câu 1 - 3 phải là thanh trắcCách 3 Gieo vần ôm tiếng cuối câu 1 vần với tiếng cuối câu 4, tiếng cuối câu 2 vần với tiếng cuối câu Ngôn ngữ bài thơ Sông núi nước NamBài thơ được viết bằng chữ Hán4. Phương thức biểu đạt bài hơ Sông núi nước NamPTBĐ tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm và nghị luậnPTBĐ chính là biểu cảm5. Bố cục bài thơ Sông núi nước NamSTTGiới hạnNội dungPhần 12 câu thơ đầuLời khẳng định chủ quyền của đất nướcPhần 22 câu thơ cuốiQuyết tâm bảo vệ chủ quyền, độc lập của dân tộc6. Giá trị nội dung bài thơ Sông núi nước NamSông núi nước Nam là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc, khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước và nêu cao ý chí bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm Giá trị nghệ thuật bài thơ Sông núi nước NamThể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn, súc tíchNgôn ngữ dõng dạc, giọng thơ mạnh mẽ, đanh thép, hùng hồnDàn ý phân tích tác phẩm Nam quốc sơn hà1. Mở bàiGiới thiệu khái quát về bài thơ “Sông núi nước Nam” hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật,…2. Thân bàia. Hai câu thơ đầu Lời khẳng định chủ quyền của đất nướcPhiên âmDịch thơ"Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thư""Sông núi nước Nam vua Nam ởVằng vặc sách trời chia xứ sở"- Nam đế hoàng đế nước Nam – thể hiện sự ngang hàng, tương xứng với vua của Trung Quốc vua được dùng để đại diện cho cả dân tộc, quốc gia, vì thế câu thơ còn khẳng định nước Nam là nơi để người dân nước Nam sinh sống→ Khẳng định sự tự tôn, lòng tự hào dân tốc - nước ta là một quốc gia có độc lập, chủ quyền ngang hàng với Trung Quốc, không hề thua kém Thiên thư sách trời - giới phận lãnh thổ của người Nam được quy định ở sách trời→ Điều này trở thành chân lý không thể chối cãi và không bất cứ ai có thể thay đổi được điều đó đối với người xưa thì yếu tố tâm linh - trời định là một điều thiêng liêng→ Vì lẽ đó, lãnh thổ nước Nam phải là của người Nam - bất khả xâm phạm⇒ Khẳng định niềm tin, sự tự hào, ý chí tuyệt đối về chủ quyền dân tộc, tinh thần tự lập, tự chủ, tự cường của dân Hai câu thơ cuối Sự quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của dân tộcPhiên âmDịch thơ"Như hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư""Giặc giữ cớ sao phạm đến đâyChúng mày nhất định phải tan vỡ"- "Nghịch lỗ" nghĩa là quân mọi rợ làm trái lại với ý trời - chỉ kẻ dám đem quân sang xâm lược nước ta, ở đây chính là quân Tống.→ Hành động của quân Tống là phi nghĩa, không thể chấp nhận, là vi phạm lại ý trời → Vì thế chúng nhất định phải chuốc lấy bại Câu thơ cuối là một lời khẳng định và cảnh cáo về số phận của những kẻ làm việc sai trái, nhưng đồng thời còn thể hiện sự tự tin vào sức mạnh của dân tộc ta, thể hiện niềm tin vào chiến thắng tất yếu của phe chính Kết bài- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơNội dung khẳng định chủ quyền của dân tộc và ý chí quyết tâm bảo vệ chủNghệ thuật thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, giọng thơ hùng hồn, đanh thép,..Cảm nhận về bài thơ Bài thơ khẳng định đanh thép, cảm xúc mãnh liệt, tinh thần sắt đá, ý chí quyết tâm không gì lay chuyển, khuất phục nổi. Cảm xúc và ý chí ấy không được bộc lộ trực tiếp mà kín đáo qua hình tượng và ngôn nghĩ về bài thơ Sông núi nước NamChúng ta ai cũng biết đến Bản tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, được đọc trên quảng trường Ba Đình rộng lớn. Tuy nhiên, trước đó, cũng đã có xuất hiện một số văn bản khác có nội dung tuyên thệ độc lập chủ quyền của đất nước ta. Trong đó, Nam quốc sơn hà được cho là văn bản đầu thơ được cho là do Lý Thường Kiệt sáng tác trong trận chiến chống quân Tống. Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn, súc tích, bài thơ đã khẳng định chủ quyền của đất nước ta, và sự quyết tâm tiêu diệt mọi kẻ thù để bảo vệ nền độc lập."Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thư"Tác giả đã gọi vua nước ta là “Nam đế” - một danh xưng ngang hàng với người đứng đầu nước Tống. Nhà vua đã đại diện cho cả dân tộc chúng ta, rằng ở nước Nam này đã có người dân sinh sống bao đời nay, phát triển mạnh mẽ dưới sự cai trị của triều đình. Bởi vậy, nước Nam chúng ta có chủ quyền, có nền văn minh không chút gì thua kém Trung Hoa cả. Điều đó đã được viết sẵn ở trong sách trời từ xưa rồi. Theo văn hóa trung đại lúc bấy giờ, “thiên” là một khái niệm vĩ đại và tuyệt đối, được người người kính ngưỡng, tôn thờ. Thế nên, sách trời đã định nước Nam là của người Nam, thì chẳng kẻ nào có quyền phủ nhận vậy mà, vẫn có những kẻ độc ác, thiếu hiểu biết, dám đem quân sang làm loạn, hòng phá bỏ đi những gì vốn được định sẵn ấy. Thật ngu dốt, tham lam thay."Như hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư"Hành động “xâm phạm” ấy chắc chắn sẽ không được ông trời ủng hộ, bị muôn người phỉ báng. Há làm sao có thể thành công được. Trận chiến này, chưa bắt đầu đã biết trước được chiến thắng sẽ thuộc về ai. Bởi phàm những kẻ dám trái ý trời sẽ không bao giờ nhận được kết cục tốt. Thất bại ê chề và nhục nhã chính là thứ mà lũ giặc độc ác nhận giọng thơ đanh thép, hào hùng, mạnh mẽ và quyết liệt, tác giả đã khẳng định được chủ quyền của đất nước ta - điều chẳng kẻ nào có thể thay đổi được. Không những thế, ông còn thể hiện được sự quyết tâm mạnh mẽ của những chiến sĩ, quyết quên mình để bảo vệ độc lập cho dân tộc. Tinh thần yêu nước ấy, từ xưa đến nay vẫn luôn cuồn cuộn như vậy là chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn bài Bài thơ Sông núi nước Nam - Nội dung bài thơ, Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩm. Mời các bạn tham khảo thêm đề thi học kì 2 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp liệu tham khảoSoạn bài lớp 7 Sông núi nước NamSoạn Văn 7 Sông núi nước NamPhân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường KiệtGiải vở bài tập Ngữ văn 7 bài 5 Sông núi nước NamSoạn bài so sánh hai bài thơ Sông núi nước Nam và Nước Đại Việt TaPhân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt Hướng dẫn Bài thơ Sông núi nước Nam có tên chữ Hán là Nam quốc sơn hà được coi là của Lí Thường Kiệt sáng tác. Bài thơ ra đời sau chiến thắng của quân ta trước quân Tông trên dòng sông Như Nguyệt do Lí Thường Kiệt lãnh đạo. Chúng ta xem bài thơ này là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong ba bản tuyên ngôn của nước ta. Bài thơ được làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Hình thức và nội dung của bài thơ là sự kết hợp hài hòa trong một kết cấu hoàn chỉnh của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ chính là lời khẳng định quyền độc lập của dân tộc, chủ quyền của đất nước và thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc. Hai câu đầu khẳng định điều mà sách trời đã ghi rõ Sông núi nước Nam vua Nam ở Vàng vặc sách trời chia xứ sở. Câu thơ tưởng chừng như đơn giản nhưng chứa đựng một lời tuyên bốhùng hồn. Đơn giản vì Sông núi nước Nam vua Nam ở, không có gì phải bàn cãi. Vậy mà lâu nay các thế lực phong kiến phương Bắc không nhìn thấy chân lí ấy. Từ trước Công nguyên, các thế lực phong kiến Trung Hoa đã đem quân xâm chiếm nước ta, coi nước ta như một vùng đất vô chủ. Lí Thường Kiệt đã đem Nam đế đặt ngang hàng với Bắc đế trong hai câu thơ trên. Đó chính là giá trị của câu thơ. Sự tồn tại của đất nước Đại Việt thuộc quyền sở hữu của vua Việt là điều hiển nhiên và đã được sách trời ghi rõ. Câu thơ dùng hai chữ Nam đã làm nổi bật danh hiệu Đại Việt và tư thế độc lập của dân tộc. Với cách diễn đạt thật cô đọng, hùng hồn, tác giả đã tuyên bố một chân lí không thể thay đổi Sông núi nước Nam vua Nam ở. Câu thơ thứ hai trong bài thơ giúp khẳng định thêm chân lí đã xuất hiện trong câu thứ nhất. Tác giả đã khéo sử dụng từ trời trong câu thơ. Tư tưởng phương Đông nói chung đề cao mệnh của ý trời còn cao hơn cả lệnh vua, vua cũng phải tuân theo mệnh trời. Chủ quyền của Đại Việt được sách trời ghi thì không ai có thể thay đổi được. Điều này đã khẳng định chắc chắn chủ quyền của Đại Việt trước các thế lực xâm lược. Từ sự khẳng định chủ quyền của đất nước, tác giả đã tố cáo hành động xâm lược của kẻ thù, đồng thời khẳng định ý chí vì độc lập dân tộc, vì chủ quyền đất nước của nhân dân Đại Việt. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thơ được diễn đạt theo lối nghi vấn nhưng thực chất là để khẳng định tính chất phi nghĩa trong việc xâm lược của quân Tông. Tiếp đến, tácgiả khẳng định thất bại tất yếu của những kẻ đi xâm lược chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thơ cuối cùng thể hiện một niềm tin tất thắng vào tính chính nghĩa của nhân dân ta, điều này dựa trên cơ sở của lòng yêu nước nồng nàn, của tinh thần vì độc lập dân tộc và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và nói lên cảm nghĩ của em. Bài làm Bia đá chùa Linh Xứng ở huyện Hà Trung thuộc tỉnh Thanh Hóa sau ngót ngàn năm, nét chữ khắc trên đá “vẩn trơ gan cùng tuế nguyệt” gửi gắm tấm lòng nhân dân ta đội ơi sâu người anh hùng “bạt Tông” để cứu nước giải phóng dân tộc “Lí Công nước Việt Noi dấu tiền nhân Cầm quân tất thắng Trị nước yên dân Danh lừng trung hạ Tiếng nức gần xa”. Lí Công là Lí Thường Kiệt, người con vĩ đại của Thăng Long nghìn năm văn vật, tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà bất hủ. Lí Thường Kiệt là danh tướng thời nhà Lí, tên tuổi gắn liền với chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt để chống giặc. Trong giờ phút giao tranh ác liệt, ông viết bài thơ Sông núi nước Nam để khích lệ và động viên tướng sĩ quyết chiến thắng giặc Tông. Bài thơ nói lên niềm tự hào về chủ quyền của dân tộc, nêu cao ý chí tự lực tự cường của nhân dân ta “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây, Chúng mày nhất định phải tan vỡ”. Hai câu thơ đầu, ngôn ngữ trang trọng, ý thơ mạnh mẽ, đanh thép, khẳng định một chân lí lịch sử bất di bất dịch “Sông núi nước Nam” – nước Đại Việt thân yêu của nhân dân ta là “nơi vua Nam ở”. Theo quan điểm lúc bấy giờ thì vua tượng trưng cho quyền lực tối thượng và đại diện cho quyền lợi tối cao của cộng đồng dân tộc. Nước ta đã có vua, nghĩa là có người làm chủ. Nam đế có thua kém gì Bắc đế. Nước có vua là có chủ quyền, có nền độc lập. Không những thế, giới phận đó đã được định rõ ở sách trời. Đó là một chân lí lịch sử khách quan không ai có thể chối cãi được. Bài thơ nói đến “Nam đế”nói đến “thiên thư” và “định phận” để khẳng định một niềm tin, một ý chí về chủ quyền quốc gia, về tinh thần tự lập, tự cường dân tộc “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở”. Có thể nói, đó là một lời tuyên ngôn về chủ quyền và nền độc lập của Đại Việt. Mọi niềm tin đều cho ta sức mạnh. Trước họa xâm lăng của ngoại bang, niềm tin về độc lập và chủ quyền sẽ làm bùng lên ngọn lửa yêu nước và căm thù giặc trong nhân dân ta. Hai câu tiếp theo, giọng thơ vang lên sang sảng, căm giận. Lí Thường Kiệt nghiêm khắc lên án hành động ăn cướp trắng trợn của giặc Tông. Chúng đã mang quân sang xâm chiếm nước ta. Câu hỏi tu từ làm cho lời thơ thêm đanh thép “Giặc dữ có sao phạm đến đây? Hành động xâm lược của giặc Tông là tàn ác và phi nghĩa. Giết người, đốt phá, ăn cướp, gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn. Chúng âm mưu biến nước ta thành quận huyện của Trung Quốc, xâm phạm tới “Nam quốc sơn hà”, làm trái với “sách Trời”. Giặc Tông nhất định sẽ bị nhân dân ta giáng cho những đòn trừng phạt đích đáng “Chúng mày nhất định phải tan vỡ”. Câu thơ khẳng định niềm tin chiến thắng. Chiến thắng vì ta có sức mạnh chính nghĩa đánh giặc để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng vì nhân dân ta có truyền thống yêu nước, có tinh thần đoàn kết bất khuất anh hùng chống ngoại xâm. Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước. “Nhất định phải tan vỡ”là bị đánh cho tan tác, không còn một mảnh giáp. “Nhất định phải tan vỡ” là bị thất bại nhục nhã. Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn cho câu thơ của Lí Thường Kiệt. Sông cầu và bến đò Như Nguyệt là mồ chôn hàng vạn lũ giặc phương Bắc. Trước sự giáng trả sấm sét của quân ta, Quách Quỳ phải tháo chạy, thất bại nhục nhục nhã. Chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt là một trong những trang sử vàng chói lọi của Đại Việt. Bài thơ Sông núi nước Nam vẫn được mệnh danh là bài thơ “thần”. Lí Thường Kiệt với tài mưu lược của một nhà quân sự văn võ song toàn đã phủ cho bài thơ một màu sắc thần linh, có tác dụng động viên tướng sĩ đánh giặc với niềm tin thiêng liêng “Sông núi nước Nam” đã được “Vằng vặc sách trời chia xứ sở”. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ đanh thép, căm giận; hùng hồn. Nó vừa mang sứ mệnh lịch sử như một bài hịch cứu nước, vừa mang ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước Đại Việt. Bài thơ là tiếng nói yêu nước và niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta, thể hiện ý chí và sức mạnh Việt Nam. Nam quốc sơn hà là khúc tráng ca chống xâm lăng biểu lộ khí phách và ý chí tự lực tự cường của đất nước và con người Việt Nam. Cảm nhận về bài thơ Nam quốc sơn hàcủa Lí Thường Kiệt. Bài làm Nam quốc sơn hàlà bài thơ chữ Hán viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật sáng ngời cảm hứng yêu nước. Nó vẫn được mệnh danh là bài thơ “thần” mà tướng sĩ nhà Lí đã nghe được trong những giờ phút giao tranh ác liệt với giặc Tông xâm lược trên chiến tuyến sông cầu vào năm 1076. Đây là bản dịch bài thơ “Sông núi nước Nam vua Nam ở ằng vặc sách Trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây, Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Lê Thước – Nam Trân dịch Hai câu thơ đầu nói về sông nước Nam, đất nước Việt Nam là nơi “Nam đế cư” vua Nam ở. Hai chữ Nam đế đối sánh với Bắc đế; Nam đế hùng cứ một phương chứ không phải chư hầu của Thiên triều. Vua Nam là đại diện cho uy quyền và quyền lợi tối cao của Đại Việt, cho nhân dân ta. Sông núi nước Nam thuộc chủ quyền của Nam đế, có kinh thành Thăng Long, có nền độc lập vững bền… Không những thế, sông núi nước Nam đã được “định phận”, đã được ghi rõ ở sách Trời, đã được “sách Trời chia xứ sở”, nghĩa là có lãnh thổ riêng, biên giới, bờ cõi riêng. Hai chữ “sách Trời” thiên thư trong câu thơ thứ hai gợi ra màu sắc thiêng liêng với bao niềm tin mãnh liệt trong lòng người, vần thơ vang lên như một lời Tuyên ngôn về chủ quyền thiêng liêng của Đại Việt “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách Trời chia xứ sở”. Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư Từ nhận thức và niềm tin ấy về sông núi nước Nam, Lí Thường Kiệt căm thù, lên án hành động xâm lược đầy tội ác, tham vọng bành trướng phi nghĩa của giặc Tông. Chúng âm mưu biến sông núi nước Nam thành quận, huyện của Trung Quốc. Hành động xâm lược của chúng đã làm trái ý Trời, đã xúc phạm đến dân tộc ta. Câu hỏi kết tội lũ giặc đã vang lên đanh thép, đầy phẫn nộ Giặc dữ cớsao phạm đến đây? Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Vị anh hùng dân tộc đã cảnh cáo lũ giặc phương Bắc và chỉ rõ, chúng sẽ bị nhân dân ta đánh cho tơi bời, chúng sẽ chuốc lấy thất bại nhục nhã “Chúng mày nhất định phải tan vỡ”. Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư Hai câu 3, 4 có giọng thơ đanh thép, hùng hồn, thể hiện tinh thần đoàn kết chiến dấu, quyết tâm giáng trả quân Tông xâm lược những đòn chí mạng để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt năm 1076 là minh chứng hùng hồn cho ý thơ trên. Triệu Tiết, Quách Quỳ cùng hơn 20 vạn quân Tông đã bị quân dân Đại Việt đánh bại, quét sạch khỏi bờ cõi. Nam quốc sơn hàlà bài ca yêu nước chống xâm lăng. Bài thơ đã khẳng định chủ quyền dân tộc, ca ngợi sức mạnh chiến đấu để bảo vệ đất nước Đại Việt. Với nội dung ấy, bài thơ Nam quốc sơn hà mang ý nghĩa lịch sử như một bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi người anh hùng Lí Thường Kiệt cùng với bàithơ Nam quốc sơn hà và chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt 1076 mãi mãi chói sáng trong tâm hồn dân tộc. Lê Hồng Vân LUYỆN TẬP Đề 1. Giới thiệu vài nét vềtác giả Lí Thường Kiệt và bài thơ Sông núi nước Nam. Đề 2. Theo em, tại sao có thể xem bài thơ Sông núi nước Nam là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc. Hãy trình bày hiểu biết của em vềcác bản Tuyên ngôn tiếp theo. Đề 3. Ý thức tự chủ và lòng tự hào dân tộc được thể hiện như thế nào trong bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt. Nguồn Topics Cảm nghĩ Cảm nhận chiến thắng chiến tranh con người dũng cảm giới thiệu Lí Thường Kiệt niềm tin phân tích quan điểm Sông núi nước Nam

phân tích bài sông núi nước nam